2006/08/12, 17:01:01

Học thuyết của Ferdinand de Saussure
(phần cuối)

5. Những sự chia cắt thực tế này (hay cấu hình của tiếng nói) thể hiện cái quan niệm thứ nhất của Saussure về hình thức ngôn ngữ. Là một hình thức, "ngôn ngữ chỉ có thể là một hệ thống giá trị thuần tuý" vì nó được kết cấu hoá với những yếu tố mà "tất cả đều dựa vào những mối quan hệ" tuỳ thuộc lẫn nhau và giá trị của bất cứ một yếu tố nào cũng đều do "những yếu tố chung quanh quy định". Phải phân tích các mối quan hệ ấy mới nắm được giá trị các yếu tố của nó. Thí dụ từ "ăn" phát âm có thể khác và nghĩa có thể khác trong một số trường hợp "ăn cơm" và "ăn ý". Nhưng tại sao vẫn có thể nhận thấy đó là một từ. Mối liên hệ giữa hai lần cùng dùng một từ ăn dựa vào đâu? Tất nhiên không phải dựa vào sự đồng nhất về vật chất (âm thanh); cùng không phải dựa vào sự tương ứng hoàn toàn về nghĩa. Nó chỉ có thể dựa vào các mối quan hệ với các yếu tố chung quanh làm nên sự đồng nhất, nghĩa là giá trị của nó. Nói cách khác, sự đồng nhất hay là giá trị của một yếu tố là do sự đối lập của nó với các yếu tố khác trong kết cấu mà có. Hình ảnh bàn cờ cho chúng ta thấy rõ điều này. Giá trị của quân cờ là do vị trí của nó trong hệ thống bàn cờ mang lại. Nếu có trường hợp mất con tốt bằng ngà, ta thoả thuận với nhau thay bằng cục phấn, thì cục phấn ấy vẫn có giá trị như con tốt bằng ngà: cái vị trí và nước đi của nó (chức năng) vẫn như cũ.

Sự so sánh đó cho thấy giá trị ngôn ngữ học không phải là ý nghĩa. Ta không thể nghiên cứu nó trong từng từ riêng lẻ, mà phải so sánh nó với các yếu tố khác trong hệ thống mới thấy được. Nói cách khác, đơn vị ngôn ngữ, hoàn toàn có tính chất âm cực (négatif) và tính chất quan hệ (relationnel): không thể xác định bằng chính bản thân nó, mà chỉ bằng những mối quan hệ (đó là cái quan niệm về hình thức mà Hjelmslev đã triệt để khai thác).

6. Những nhận xét về sự đồng nhất và giá trị ngôn ngữ học trên đây đồng thời cũng cho thấy rõ rằng muốn khám phá ra những đơn vị ngôn ngữ cụ thể của một tiếng nói, thì phải xuất phát từ những hệ thống mà chúng là những giá trị tạo thành, vì không phải lúc nào chúng cũng có cái biểu đạt vật chất rõ ràng. Chẳng hạn như cái biểu đạt của một kí hiệu ngữ pháp, chỉ là một sự luân phiên (alternance), mà không thêm vào từ căn một yếu tố phụ nào cả. Ví dụ, kí hiệu số ít, số nhiều trong tiếng Pháp: cheval (con ngựa) > chevaux (những con ngựa), là một biến đổi căn tố. Trong tiếng Anh, kí hiệu thời quá khứ các động từ bất quy tắc (irreguliers) cũng được cấu tạo bằng một nguyên âm của từ căn: bind (tôi buộc) › bound (tôi đã buộc) v.v… Cái biểu đạt quả không có gì là thêm cả, chỉ đơn thuần là một sự khác nhau giữa bindbound, chevalchevaux. Nhưng những hiện tượng ấy phản ánh một hình tượng khái quát: kí hiệu "hiện tại" chỉ có một thực thể là so với kí hiệu "quá khứ", kí hiệu "số ít" chỉ có thực thể là so với kí hiệu "số nhiều", khiến cho ta không thể nhận ra một kí hiệu mà không cùng lúc xếp nó vào trong hệ thống giá trị của tiếng nói.

Cũng vậy, muốn phân xuất câu nói ra những kí hiệu từ vựng tối thiểu (hình vị), thì cũng phải xuất phát từ hệ thống tiếng nói chứa đựng những kí hiệu này. Ví dụ: những tổ hợp như cà rốt, cà chua, cà phê có thể phân tích tất cả những yếu tố nhỏ hơn không? Chỉ có căn cứ vào hệ thống – tức vào cái mô hình cấu tạo của tiếng nói – mới có thể giải đáp được, chẳng hạn trong "cà phê" không thể lược bỏ như t trong "cà chua" (nghĩa là không thể phân tách ra thành hai hình vị), vì không có yếu tố phê cũng như không có yếu tố rốt (với cái nghĩa trong các tổ hợp ấy) đứng một mình. Cà phê cũng như cà rốt là một hình vị đa tiết. Và ta có thể nói: cà phê chè, cà phê vối, cà phê mít (cây cà phê); cà phê đen, cà phê sữa (nước cà phê).

Trái lại, cà chua có thể phân tích thành: cà / chua vì ta có thể so sánh nó với cà gai, cà pháo, cà dái dê, cà độc dược

Cái cách phân định một yếu tố ngôn ngữ như trên, cũng chính là một cách nhận diện một đơn vị cụ thể, nghĩa là nhận ra một đơn vị nào đó cùng là một yếu tố duy nhất trong những ngữ cảnh và ngữ huống khác nhau. Vì giá trị của một đơn vị nào đó là do sự đối lập của nó với các yếu tố khác trong hệ thống như đã thấy trên kia. Ví dụ: cái sắc thái nghĩa nào đó của từ "ăn" mà nó có được › cả khi nó rất xa lạ với cái nghĩa cơ bản › chính là bởi không có một kí hiệu nào cùng tồn tại (như "chấp nhận", "hoà" v.v…) có thể phù hợp với sắc thái này. Nó thuộc kí hiệu "ăn" chứ không thuộc một kí hiệu nào khác. Cho nên, Saussure tuyên bố rằng "Cái đặc trưng đúng đắn duy nhất của những kí hiệu là cái mà những kí hiệu khác không có". Nói cách khác, một kí hiệu ngôn ngữ được xác định với những nét "dị biệt" của nó, nó chỉ được xác định với hiện tượng nó không trùng khớp với kí hiệu khác. Đó là nguyên lí đối lập, theo đó người ta có thể quy cho một kí hiệu những nét ngữ âm hay ngữ nghĩa phân biệt nó với ít nhất một kí hiệu khác.

7. Như đã thấy, với những luận điểm cơ bản trên đây, Saussure đã làm một "cuộc cách mạng Kopernick" và khai sinh ra nền ngôn ngữ học của thế kỉ này.

Tuy nhiên, trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương có một số điểm thoạt thì dường như mâu thuẫn với nhau, khiến cho ai chỉ nắm một mặt này hay mặt kia của vấn đề thì sẽ dễ hiểu sai lệch. Chẳng hạn, đơn vị ngôn ngữ hiện ra dưới ngòi bút của Saussure như có hai tính chất đối lập nhau. Một mặt, nó hoàn toàn có tính chất "âm vực" và "quan hệ" chỉ được tạo nên bởi vị trí của nó trong mạng lưới quan hệ cấu thành tiếng nói. Mặt khác, nó lại như có một thực thể "dương cực" ở chỗ nó phân biệt với các đơn vị khác. Điều đó sau này đã gây ra sự tranh cãi giữa các nhà chức năng luận ngữ và ngữ vị học. Tuy vậy, cái điểm thống nhất ở họ là đơn vị ngôn ngữ về mặt ngữ âm cũng như ngữ nghĩa bao giờ cũng có liên quan đến các đơn vị khác và người ta không thể nghe và hiểu đựơc một kí hiệu, nếu không đặt nó vào toàn bộ hoạt động của tiếng nói.

Cũng như vậy, sự phân biệt đồng đại với lịch đại, ngôn ngữ với lời nói, cũng như hình thức vói chất liệu, ở chỗ này hoàn toàn tách biệt, ở chỗ kia lại có sự tác động lẫn nhau. Do đó cần phải kết hợp cả hai mặt ấy lại mới thấy cái quan niệm hoàn hảo của Saussure về sự kiện ngôn ngữ.

Để phát huy thành quả của Giáo trình, cần bổ sung những nguồn tài liệu khác nữa vào bản thảo, giúp cho việc nắm vững những suy nghĩ độc đáo, sâu sắc và phong phú của tác giả.

Mặc dù vậy, học thuyết Saussure đã thực sự mở ra một chân trời mới cho nền ngôn ngữ học hiện đại. Những người đầu tiên tiếp tụ và phát triển học thuyết mới này là những nhà ngôn ngữ học thuộc nhóm Câu lạc bộ Praha. Dựa vào những luận điểm cơ bản của Giáo trình (Ngôn ngữ, lời nói và tính dị biệt của kí hiệu), họ đã xây dựng nên một bộ môn âm vị học mà tác dụng của nó đối với ngành ngôn ngữ học không khác gì môn vật lí hạt nhân đối với các ngành khoa học tự nhiên.


Theo Đái Xuân Ninh (1984). Học thuyết của Ferdinand de Saussure. In trong Ngôn ngữ học: Khuynh hướng • Lĩnh vực • Khái niệm (tập 1). Nxb KHXH, H., 1984, trang 57–61.

Trở lại phần 2

Về tiểu sử của Saussure, xin đọc: Ferdinand de Saussure

NGÀY NÀY NĂM XƯA

25/3/1957, sáu quốc gia châu Âu kí kết Hiệp ước Rome thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu EEC. Các nước kí kết bao gồm Bỉ, Pháp, CHLB Đức, Italia, Hà Lan và Luxembourg. [Chi tiết...]

GIỚI THIỆU SÁCH

ĐỐ VUI

Tròn tròn, ngửa ngửa, nghiêng nghiêng
Nhỏ mà chẳng chịu tu riêng như người

RSS

RSS Feed
0.0019199848175049
Powered by statxt

Copyleft: ngonngu.net © 2007