2006/08/08, 16:59:37

Edward Sapir
(1884 – 1930)

Nếu như có những nhà khoa học đi rất sâu vào một lĩnh vực nào đấy, thì cũng có những nhà khoa học nghiên cứu rất rộng, nhưng vẫn sâu sắc nhiều vấn đề khác nhau của một hoặc nhiều ngành khoa học. Edward Sapir là một nhà khoa học thuộc loại thứ hai này.

Sinh ngày 26 tháng giêng 1884, tại Đức, ông theo gia đình di cư sang Mĩ, khi mới lên năm. Ông học tiểu học và trung học, tại New York.

Chàng thanh niên gốc Đức-Do Thái này theo học ngữ văn học Đức tại đại học Columbia, nhờ thế đã quan tâm tới ngôn ngữ học, và đặc biệt là các bài giảng của nhà nghiên cứu nhân chủng học Franz Boas (1858 – 1912) đã ảnh hưởng tới con đường khoa học tương lai của Sapir: nhân chủng học và ngôn ngữ học là hai hướng đi chủ yếu, đồng thời của ông.

Sapir đã bỏ ra sáu năm để học các tiếng của những bộ tộc da đỏ ở miền Tây nước Mĩ: như Yana, Paiuta,... Những công trình khoa học đầu tiên của ông có liên quan tới vấn đề này. Ông đỗ tiến sĩ năm 1939, với công trình về dân tộc và ngôn ngữ người da đỏ Tikeinm, ở phía nam Ôrigôn. Năm 1910, Sapir được giao chức trưởng ban nhân chủng học tại Nhà bảo tàng quốc gia Canada, ở Ottawa. Ông giữ chức vụ này cho tới năm 1925, khi ông được mời về dạy ngôn ngữ học đại cương và nhân chủng học ở trường Đại học Sicago. Tại Ottawa, ông tiếp tục nghiên cứu về các ngôn ngữ người da đỏ, và có nhiều đóng góp về dân tộc học.

Năm 1921, ông công bố quyển sách nổi tiếng: Ngôn ngữ: Dẫn luận về sự nghiên cứu lời nói (Language: An Introductionto the Study of Speech). Qua sách này, ông đã độc lập mở ra con đường nghiên cứu ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ dân tộc. Ông độc lập với Bloomfield, vì cuốn Language của Bloomfield mãi năm 1933 mới công bố. Ông cũng độc lập với các trường phái ngôn ngữ học châu Âu. Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của F. de Saussure được công bố trước đó không lâu lắm (1916), còn trường phái Praha mãi năm 1926 mới thành lập.

Tại Đại học Sicago, trên cơ sở quan sát hàng loạt ngôn ngữ người da đỏ ở Mĩ, Canada, một phần ở Mêhicô, và Trung Mĩ, năm 1929, ông đề nghị phân các ngôn ngữ này thành sáu nhóm chính.

Năm 1931, ông là giáo sư ở Đại học Yan, lập ra khoa nhân chủng học và làm việc ở khoa này cho tới 1937. Sapir mất ngày 4 tháng hai năm 1939, tại New Haven.

Về quan điểm ngôn ngữ học, E. Sapir cho rằng, hoạt động ngôn từ không thể tách rời khỏi các hợp thành văn hoá của một cộng đồng xã hội, nó là bộ phận cơ bản của nền văn hoá, mà đặc trưng là các biểu tượng, chế ước và kinh nghiệm. Ngôn ngữ là một cấu trúc mang dấu ấn của tư duy. Nó mang thế giới quan đặc thù của một nền văn hoá, nó tổ chức và là điều kiện cho tư duy hoạt động. Quan điểm đó thường được gọi là giả thuyết Sapir-Whorf. Trong số học trò của ông, Benjamin Lee Whorf (1897 – 1941) là người gần gũi và nổi tiếng nhất. Giả thuyết này trái ngược với quan điểm của L. Bloomfield, vốn coi tư duy không phải là một yếu tố thích đáng trong một lí thuyết ngôn ngữ.

Về mặt phương pháp, Sapir không thật sự đề ra một phương pháp phân tích – miêu tả các ngôn ngữ. Nhưng ông đã đề cập tới nhiều vấn đề khác nhau. Sapir là một trong những nhà ngôn ngữ học đầu tiên đã thấy tính phức tạp của nghĩa, và sự đa dạng của các dạng thức ngôn ngữ học. Ông đã nghiên cứu chúng dưới góc độ xã hội của giao tiếp, dưới góc độ kĩ thuật của ngôn ngữ kĩ thuật (kể cả việc xây dựng một ngôn ngữ nhân tạo đặc thù), dưới góc độ thẩm mĩ của sự sáng tạo cá nhân, dưới góc độ văn học, dưới góc độ nhân thức và tâm lí…

Trong Tuyển tập các bài viết về ngôn ngữ, văn hoá và cá nhân (Selected writings in Language, Culture and Personality, 1940), nổi lên các bài viết đề cập tới âm vị học, và nhiều ý kiến của ông trở thành kinh điển: sự phân biệt âm vị học với ngữ âm học, sự phân loại cấu trúc các “yếu tố âm vị học chân chính” (các âm vị) của một ngôn ngữ. Sapir rất quan tâm tới khái niệm “từ”. Theo ông, không thể xác định một tập hợp các từ loại cho một ngôn ngữ để giải quyết triệt để vấn đề cấu trúc ngôn ngữ của nó. Về ngữ pháp, có thể chia các quá trình ngữ pháp cơ bản thành sáu kiểu: 1) Dùng trật tự từ; 2) Dùng sự tổ hợp; 3) Dùng sự phụ gia; 4) Dùng sự đổi chỗ các thực thể nguyên âm và phụ âm; 5) Dùng phép láy; 6) Dùng trọng âm.

Sapir và Bloomfield là hai đại diện xuất sắc nhất của nền ngôn ngữ học Mĩ trong nửa đầu thế kỉ này. Hai ông đối lập với nhau về quan điểm, phong cách và phương pháp, nhưng lại bổ sung cho nhau. Sapir đề cao vai trò văn hoá, tư duy trong nghiên cứu ngôn ngữ, còn Bloomfield xây dựng lí thuyết ngôn ngữ theo quan điểm hành vi luận. Nếu coi Bloomfield là người đề xướng phương pháp cấu trúc triệt để , thì Sapir được coi là đại diện cho một trường phái cấu trúc điều hoà hơn. Về phong cách, nếu Bloomfield đi rất sâu vào các vấn đề ngôn ngữ học, thì với Sapir, ngoài nghiên cứu ngôn ngữ học và nhân chủng học, chúng ta còn gặp ông trong các hoạt động văn học, thơ ca và âm nhạc. Ông vừa làm thơ, vừa sáng tác nhạc, lại vừa là nhà phê bình văn học và âm nhạc; hơn thế nữa, ông cũng là một nghệ sĩ biểu diễn.

Ngoài B. L. Whorf, trong số học trò nổi tiếng của Sapir, có thể kể đến Kenneth Lee Pike, và Morris Swadesh.


Theo Nguyễn Đức Dân (1984). Edward Sapir . In trong Ngôn ngữ học: Khuynh hướng • Lĩnh vực • Khái niệm (tập 1). Nxb KHXH, H., 1984, trang 204.

NGÀY NÀY NĂM XƯA

Ngày 24/11/1946, Đại hội Văn hoá toàn quốc lần thứ nhất được khai mạc trọng thể tại nhà hát thành phố Hà Nội, với sự tham gia của hơn 200 đại biểu. Trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu bật nhiệm vụ của nền văn hoá mới là phải lấy hạnh phúc của đồng bào, lấy sự nghiệp đấu tranh của dân tộc làm nội dung phản ánh. Người còn nói: "Tôi mong muốn chúng ta đem văn hoá lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập tự cường và tự chủ". [Chi tiết...]

GIỚI THIỆU SÁCH

ĐỐ VUI

Học tập cho kì đến hói đầu
Bề ngoài ra dáng khôn ngoan lắm
Rốt cục khôn ngoan chỉ bộ râu

RSS

RSS Feed
0.037667036056519
Powered by statxt

Copyleft: ngonngu.net © 2007